Có nguồn gốc từ châu Âu thế kỷ 12, thị huy là biểu tượng đại diện cho một dòng tộc, quốc gia, tổ chức, trường học hoặc doanh nghiệp. Trong quá trình xâm lược, thực dân Pháp đã mang hình thức này đến các thuộc địa của mình, và từ đó, nhiều thiết kế thị huy dành riêng cho các thành phố ở Việt Nam đã ra đời.
19 tháng 4, 2026
Khám phá biểu tượng của các thành phố lớn của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Có nguồn gốc từ châu Âu thế kỷ 12, thị huy là biểu tượng đại diện cho một dòng tộc, quốc gia, tổ chức, trường học hoặc doanh nghiệp. Trong quá trình xâm lược, thực dân Pháp đã mang hình thức này đến các thuộc địa của mình, và từ đó, nhiều thiết kế thị huy dành riêng cho các thành phố ở Việt Nam đã ra đời.
05 tháng 4, 2026
Rạp hát vùng Chợ Lớn thời Sài Gòn Xưa
Rạp hát vùng Chợ Lớn thời Sài Gòn Xưa
02 tháng 1, 2026
Chúc Mừng Năm Mới 2026
Chúc Mừng Năm Mới 2026
Europe - The Final Countdown
05 tháng 11, 2025
Tóm tắt lịch sử Việt Nam
Tóm tắt lịch sử Việt Nam, 10 phút học lịch sử Việt Nam - Thời đại tiền sử > Thời kỳ đồ đá cũ > Thời kỳ đồ đá mới > Thời kỳ đồ đồng >Thời kỳ đồ sắt- Sự hình thành Nước Văn Lang và Nước Âu Lạc
+ Đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, An Dương Vương lập nên nước âu Lạc và vết tích Thành Cổ Loa vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
- Giai đoạn Bắc thuộc: Từ năm 207 trước công nguyên đến Thế kỷ thứ 10 sau công nguyên:
27 tháng 10, 2025
Chợ Bến Thành từng là một bãi sình lầy hoang vắng
Chợ Bến Thành từng là một bãi sình lầy hoang vắng
Chợ Bến Thành (cũ) ban đầu nằm bên bờ kinh Chợ Vải (kinh Lấp / đại lộ Charner, nay là đường Nguyễn Huệ). Sau đó, chợ dời đến địa điểm mới là đầm Boresse (chợ Bến Thành ngày nay).
Trong cuốn Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2016), từ việc tìm hiểu nguồn tài liệu lưu trữ của chính quyền thuộc địa Pháp và các tư liệu có giá trị khác chưa được khai thác nhiều (của Việt Nam và ngoại quốc), tác giả Nguyễn Hữu Quang đã phác thảo nên diện mạo hạ tầng đô thị Sài Gòn trong buổi đầu chuyển đổi từ đô thị phong kiến phương Đông sang đô thị theo kiểu phương Tây. Tác giả cũng cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quát về quá trình hình thành phát triển, cũng như chi tiết về từng lĩnh vực của hạ tầng Sài Gòn, trong đó có lĩnh vực hạ tầng chợ búa, mà điểm nhấn là chợ Bến Thành trong thưở đầu. Xem tiếp
24 tháng 10, 2025
TỔNG TRẤN LÊ VĂN DUYỆT VÀ ÁN THAM NHŨNG CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ
TỔNG TRẤN LÊ VĂN DUYỆT VÀ ÁN THAM NHŨNG CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ
Lịch sử là lịch sử, cách đây 13 năm gã đã viết một câu chuyện khá đặc biệt về cụ Lê Văn Duyệt. Trong đó có góc nhìn khách quan của chính viên trung úy thuyền trưởng John White, người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn năm 1819 trên chiếc thương thuyền Franklin.
10 tháng 10, 2025
Nhân Vật Lịch Sử : 05-Lý Phục Man
Nhân Vật Lịch Sử : 05-Lý Phục Man
Lý Phục Man (李服蠻, ? - 547), không rõ họ tên thật.Ông là một danh tướng thời Lý Nam Đế ở thế kỷ 6 trong lịch sử Việt Nam. Vì ông có công thu phục được các bộ tộc thiểu số (người Man) vùng Đỗ Động - Đường Lâm (vùng tây bắc nước ta thời Lý Nam Đế) nên được suy tôn là "Phục Man Tướng Quân".Ông cùng với Phạm Tu đánh tan quân Lâm Ấp xâm lược nên đã được vua cho mang họ "Lý") 1 . Ông là người Làng Cổ Sở sau đổi là Làng GIÁ(gồm ba làng: Yên sở, Đắc Sở,Yên Thái thuộc huyện Hoài Đức,Hà Nội ngày nay).Theo Thần Tích tại Quán GIÁ,Ông nổi tiếng là người giỏi võ nghệ,có tài thuần trị được voi. Là một trung thần có nhiều công lao, nên khi mất, ông được nhân dân nhiều nơi tôn thờ làm Thành hoàng làng2 . Mặc dù vậy, trong các tài liệu chính sử xưa kia không thấy chép về ông. Tên và thần tích của ông xuất hiện trong các tài liệu dã sử như: "Tiền Nam Đế Sự Tích Quốc Âm", Việt điện u linh tập thời Trần; và sau đó được kể lại trong Đại Nam nhất thống chí thời Nhà Nguyễn và trong Thần tích tại đền thờ Ông. . . . Xem tiếp
06 tháng 10, 2025
Ký ức mùa Trung Thu thơ ấu
Tiếng trống rộn, lồng đèn cười khúc khích,
Phố nhỏ đầy hương cốm, hương mơ.
Chiếc đèn ngôi sao run trong tay nhỏ,
Bước chân reo qua bến nước, sân đình.
Áo mẹ vá còn thơm mùi khói bếp,
Bánh nướng chia nhau — ngọt cả ân tình.
Giờ xa lắm, trăng xưa còn sáng đó,
Nhưng người xưa đã khuất nẻo thời gian.
Chỉ kỷ niệm như hương thu còn đọng,
Soi lòng ta — ngọn lửa của trăng vàng.
05 tháng 10, 2025
Giá trị từ Hán Việt trong Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan
Xem tiếp
04 tháng 10, 2025
Thuật Chuyện Du Lịch Ở Paris - Phạm Quỳnh
THUẬT CHUYỆN DU LỊCH Ở PARIS-Phạm Quỳnh
Tôi ở bên Pháp trước sau có bốn tháng, vừa đi vừa về, cả thảy là sáu. Tuy công nhiên là “đi Đấu xảo”, song chủ ý là muốn thừa dịp để quan sát nước Pháp, vì các ngài cũng hiểu cho rằng một kẻ thư sinh như tôi, có ngôi vị gì, có tư cách gì mà đủ “đấu xảo” với người ta. Việc đó đã có những bậc cao sang hơn.
Trong mấy tháng tôi ở bên quí quốc, những sự mắt thấy tai nghe, bụng suy trí nghĩ cũng nhiều, nay thuật lại các ngài nghe, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, không biết nói chuyện chi, bỏ chuyện chi, vì không thể sao nói hết cả được. Và cũng không biết bắt đầu nói chuyện gì trước.
Khi tôi khởi sự đi Pháp, trong bụng có rắp một điều: là người mình bấy lâu nay sinh trưởng dưới quyền bảo hộ của quí quốc, vẫn một lòng ngưỡng phục cái văn minh của quí quốc, nhưng khác nào như người đứng xa ngắm bức tranh đẹp, bức tranh ấy tuy có truyền ảnh sang bên này, nhưng mập mờ phảng phất, không hình được hết cái chân tướng, nay được thân hành du lịch bên quí quốc, nên ra sức dò xét xem cái chân tướng ấy thế nào.
21 tháng 9, 2025
Nội các Triều Nguyễn
Nội các Triều Nguyễn
Nội các là cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận và chuyển giao các giấy tờ từ các cơ quan trung ương, địa phương trình lên nhà Vua. Nếu có chỉ, dụ của nhà Vua thì Nội các thảo phiếu nghĩ để trình; sao lục lại các ý kiến, mệnh lệnh của Vua, tổng hợp nội dung các bản tấu của quan lại, lưu trữ các văn bản, sổ sách để thuận tiện tra cứu và đóng ấn vào các văn bản đã có ý kiến chỉ đạo của nhà Vua.
Nhân Vật Lịch Sử /04-Dương Lâm
Nhân Vật Lịch Sử /04-Dương Lâm
Dương Lâm (1851–1920), hiệu Vân Hồ, Quất Đình, tự Thu Nguyên, Mộng Thạch, là quan nhà Nguyễn, một danh sĩ Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Ông nổi tiếng về tài văn chương, tính tình tao nhã, lại là một nhà giáo có biệt tài.(1)
Thân thế và sự nghiệp
Ông sinh năm 1851, người làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Thân phụ ông là Dương Quang, anh ruột ông là Tiến sĩ Dương Khuê.
Năm Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử nhân, đến năm Giáp Thân (1884), được bổ làm Huấn đạo Ý Yên, rồi thăng làm Tri huyện Hoài Yên.
Ba năm sau, ông làm Bang tá Nha kinh lược Bắc Kỳ.
Năm Kỷ Sửu (1889), ông được bổ Án sát Hưng Yên, rồi thăng làm Bố chính Sơn Tây, hàm Quang lộc tự khanh.
Năm Tân Mão (1891), ông về Hà Nội, làm chủ bút báo Đồng Văn. Năm sau, lại được bổ làm Tuần phủ Thái Bình.
Năm Ất Tỵ (1895), ông làm Tham tri Nha kinh lược Bắc Kỳ, sau đó về triều giữ chức Thượng thư bộ Công kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán. Khi triều đình sửa đổi phép học, phép thi, ông được cử đứng đầu ban Tu thư, cùng với Đoàn Triển, Đỗ Văn Tâm, Bùi Hướng Thành cùng soạn sách Tân giáo khoa.
Năm Canh Tý (1900), ông làm Tổng đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên), gia hàm Thái tử Thiếu bảo. Vì quê làng Vân Đình nên người đương thời gọi ông là cụ Thiếu Vân Đình.
Khi về hưu, ông được triều đình tặng hàm Hiệp tá Đại học sĩ. Ông về quê nhà, mở trường dạy học.
Năm Canh Thân (1920), ông mất hưởng thọ 69 tuổi, được truy tặng tước Khánh Vân nam.
Tác phẩm
Khác với các tác phẩm của anh mình, vốn được ghi chép và bình luận nhiều dưới thời Pháp thuộc vì có vẻ như "vô thưởng", "vô phạt" (về mặt chính trị) dưới con mắt của nhà kiểm duyệt và các nhà đương cuộc Pháp và Việt Nam; các tác phẩm của Dương Lâm ít được phổ biến hơn, có lẽ vì phần nhiều đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến thời kỳ người Pháp xâm lăng Việt Nam và nói lên cảm nghĩ của tác giả về các sự kiện lịch sử ấy, như Dương Quảng Hàm đã nhận xét rất đúng trong quyển Văn học sử yếu, xuất bản năm 1941.(2)
Tác phẩm của ông có "Vân Đình thi văn tập" gồm cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm, bộc lộ tư tưởng hưởng lạc, làm "lúc nhàn sau cơn say".
Chú thích
1) Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ Dương Lâm, tr. 101-102.
2) Tâm trạng Dương Khuê Dương Lâm
08 tháng 9, 2025
Đường về ngõ nhỏ,
lá rơi trước ngõ,
bước chân ai vội vã,
rụng đầy niềm nhớ thương.
13 tháng 8, 2025
Về một nỗi nhớ
Về một nỗi nhớ
Có những buổi chiều, trời như nhuộm một màu vàng cũ, gió thổi nhẹ nhưng đủ để mang theo chút hương của ngày xưa. Trong khoảnh khắc ấy, nỗi nhớ bỗng ùa về — không ồn ào, không gấp gáp, chỉ như một làn sóng lăn tăn, chạm khẽ vào tim.
Nỗi nhớ vốn dĩ chẳng bao giờ báo trước. Nó đến vào một buổi sớm khi tôi vô tình nghe một bản nhạc quen, hay khi bắt gặp ánh mắt ai đó giống hệt ánh mắt của người xưa. Có lúc, chỉ cần mùi cà phê thoảng qua là lòng lại chùng xuống, bởi tôi nhớ ra đã từng có một mùa đông, chúng tôi ngồi cạnh nhau bên tách cà phê nóng, nói những chuyện vụn vặt nhưng thấy cả thế giới.
Thời gian trôi đi, chúng ta ai cũng bận rộn với cuộc sống. Những ngày đã qua bị xếp gọn gàng vào ngăn ký ức, tưởng như đã quên, nhưng thực ra vẫn ở đó, nguyên vẹn đến lạ. Và khi nỗi nhớ trở lại, tôi mới nhận ra: có những điều không thể cất đi, càng muốn quên lại càng nhớ sâu hơn.
04 tháng 10, 2023
Chuyện Xứ Nam Kỳ-Bài 1:Tiểu thuyết chữ Quốc ngữ đầu tiên
Bài 1:Tiểu thuyết chữ Quốc ngữ đầu tiên
|
|
Nguyễn Trọng Quản sinh năm 1865 tại Bà Rịa, mất năm 1911 tại Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà giáo, nhà văn, là tác giả của các tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện khá sớm trên văn đàn ở nước ta |
|
|
|
03 tháng 9, 2023
Haiku như một nghệ thuật sống (Kỳ 2)
Haiku như một nghệ thuật sống (Kỳ 2)
|
Tranh của Yamamotoo Masao.
|
Kỹ thuật cơ bản của haiku – là hòa mình vào đời sống của đối tượng được quan sát, rồi ghi lại giao cảm giữa mình và đối tượng – đã biến haiku cổ điển thành một nghệ thuật sống, thay vì chỉ một nghệ thuật viết đơn thuần. Phong nhã trong thiên nhiênTừ thế kỷ 9, khi học tập nhà Đường, giới quý tộc và tăng sĩ Nhật đã du nhập một loại thẩm mỹ tiết chế gọi là “nhã” (miyabi). Trong văn chương, “nhã” gắn liền với kỹ thuật tả cảnh thiên nhiên để ngụ tình, nhờ đó giảm nhẹ cường độ sỗ sàng của tham dục và cái tôi, giúp con người tăng sự nhạy cảm để chạm vào những cảm giác vi tế. Xem tiếp |
|
|
28 tháng 8, 2023
Khởi Đầu Nền Tân Nhạc-Từ Lúc nào ?
Khởi đầu nền tân nhạc
|
Nếu bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu viết hồi năm 1920 mở đầu cho hình thức cải lương đổi mới của nghệ thuật ca kịch truyền thống, thì cũng có vài biên khảo cho rằng bài Kiếp hoa (thơ Nguyễn Văn Cổn, nhạc Nguyễn Văn Tuyên) là bài tân nhạc đầu tiên viết vào năm 1938. |
Hội Ái Nhạc (Philharmonique) ở Hà Nội đầu thế kỷ 20 (Ảnh: Tư liệu)
|
|
|
|
24 tháng 8, 2023
Kỹ thuật thơ, kỹ thuật sống trong thơ haiku-Bài 1
Kỹ thuật thơ, kỹ thuật sống trong thơ haiku-Bài 1
|
Tác phẩm văn học dài một câu |
|
|
|
|
29 tháng 7, 2023
Saigon-Chuyện Đời Của Phố P01-Phạm Công Luận
Saigon-Chuyện Đời Của Phố P01-Phạm Công Luận
|
Đôi khi tôi vẫn tự hỏi, mối tơ duyên giữa tôi và Sài Gòn bắt đầu từ khi nào? Từ cái Tết đầu tiên tôi theo ba mẹ vô Sài Gòn ăn Tết với giađình bên nội, hay từ thuở ba tôi còn là một thiếu niên thường xuyên trốn học đi xem phim ở rạp Văn Cầm, Phú Nhuận. Hay xa xăm hơn nữa, từ năm 1941, khi chàng trai trẻ - là ông nội tôi - lặn lội từ Quảng Bình vô Sài Gòn làm cậu chạy việc cho các bà phước ở dòng tu kín sau Nhà Bưu điện Thành phố, ít lâu sau lại trở thành anh bồi của một gia đình người Pháp trên đường Catinat với mức lương 40 đồng bạc Đông Dương? ---Xem tiếp |
|
26 tháng 7, 2023
Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh
|
Dù không sinh ra ở Hà Nội, nhưng gần như suốt cuộc đời mình, Băng Sơn sống, viết và gắn bó hoàn toàn với Hà Nội. Ông đã viết rằng: “Hà Nội như máu thịt tôi, không thể tách rời ra được nữa. Tôi chưa bao giờ sống xa Hà Nội quá một tuần. Hà Nội có cái gì thì con người tôi có cái ấy, dù tôi không phải là Bách khoa thư lưu trữ toàn bộ những thứ gì liên quan đến Hà Nội, nhưng gần như một đời thâm nhập vào Hà Nội, tôi tự thấy mình quá hiểu Hà Nội lắm rồi".. Băng Sơn làm thơ và viết văn từ năm 1949 và đã có nhiều tác phẩm được đăng báo từ thủa đang còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhưng đến năm 1975, ông chuyển qua viết văn xuôi. Lúc đó, ông bảo: “Phải viết văn mới biểu diễn hết những cái mà mình chất chứa trong tâm hồn về con người, về cuộc sống, về quê hương, đất nước, đặc biệt là về Hà Nội mến yêu.” |
|
Ngôn ngữ văn chương của Băng Sơn vô cùng gần gũi, mạch lạc, rõ ràng, nhưng lại chất chứa đầy vần điệu được cất lên bởi một tâm hồn tinh tế. Bởi thế, tạp văn của ông, vừa đầy chất đời, lại vừa miên man như thơ.
Hà Nội trong mắt Băng Sơn giống như người thiếu nữ trong đôi mắt kẻ si tình, rất đẹp đẽ, rất đắm đuối. Cái ánh nhìn đẹp đẽ mà không khoa trương ấy của Băng Sơn đã khiến bao nhiêu thế hệ độc giả cảm động.
Những điều giản dị giữa Hà Nội như khi ngồi ngắm người ta qua lại đi tập thể dục giữa những ô cỏ rộng ở Lăng Bác, hay phóng xe lên cầu Long Biên ngắm mặt trời lặn và thả mắt nhìn ra những bãi phù sa tươi tốt những cây, những cỏ, những ruộng nhỏ xanh ngát.
Hà Nội cũng là trèo lên gác 2 của một quán cafe cổ, ngồi ở ban công, ngó xuống phía dưới phố phường tan tầm nhộn nhịp đang được bầu trời ra sức nhuộm một màu mật vàng...
Hà Nội là như thế đấy, như lời nhà văn Băng Sơn viết: "Rong ruổi dù quẩn quanh cũng hay đáo để". Băng Sơn đã nhắc nhớ lại những kỷ niệm đẹp nhất với những người Hà Nội cũ, và khơi dậy trong tâm trí những người Hà Nội hôm nay niềm mến yêu gần gụi cùng thành phố họ đang sống. Dù Hà Nội hôm nay đang khác đi rất nhiều ngày Băng Sơn “rong ruổi quẩn quanh” ấy, nhưng hồn khí của thành phố thì vẫn vẹn nguyên.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên từng nói: “Tản văn về Hà Nội thì rất nhiều người viết, nhưng Băng Sơn có lối viết của mình, ông viết nhẹ nhàng điểm qua. Có lẽ vì trước một đề tài vừa quen vừa lạ nên viết nó vừa dễ, vừa khó. Băng Sơn là gợi mở, điểm xuyết. Chữ "rong ruổi quẩn quanh" là ngày nào mình cũng đi, nhưng không bao giờ là chán trong mắt những người yêu Hà Nội” .
Băng Sơn dành cả cuộc đời mình để rong ruổi và viết về Hà Nội. Ngoài Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, ông còn nhiều cuốn sách viết về Hà Nội như: Thú ăn chơi người Hà Nội (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin - 1993); Nghìn năm còn lại (Nhà xuất bản Hà Nội - 1996); Nước Việt hồn tôi (Nhà xuất bản Phụ Nữ - 1995); Đường vào Hà Nội (Nhà xuất bản Thanh Niên - 1997); Hà Nội 36 phố phường; Dòng sông Hà Nội....
Suốt một cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp văn học nước nhà, ông đã tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý của nhà nước như Huy chương vì sự nghiệp văn hóa, Huy chương vì sự nghiệp giáo dục thanh thiếu nhi. Cuối năm 2009, ông được chọn vào danh sách đề cử giải thưởng lớn trong giải thưởng “Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội”










