Nam kì du hí: Kỳ II. Gò Công - Hà Tiên
Sau ba tháng khám phá Sài Gòn - Chợ Lớn, viên bác sĩ Hải quân Albert Morice tiếp tục du hí những vùng đất khác, với điểm đến tiếp theo là Gò Công - Hà Tiên và đảo Phú Quốc
Rời Sài Gòn - Chợ Lớn, bác sĩ Morice tiếp tục hành trình đến Gò Công - một trong những thủ phủ lúa gạo của Nam Kỳ và gặp các quan cai trị người Pháp ở đây. Tòa Tham biện là một công trình sang trọng mang phong cách Trung Hoa, nằm phía sau con kênh, nối với làng bằng cây cầu, có hàng rào ngăn với đồn lũy, phía còn lại bao quanh là khuỷu kênh và đầm lầy. Gần đó là khu nhà ở của thư ký người Âu và nhân viên điện tín.
Hạt tham biện Gò Công quản lý 45 làng với hơn 33.000 dân, sở hữu diện tích canh tác lúa khá lớn. Con người Gò Công không dễ bị thuần phục, các phong trào nổi dậy chống Pháp từng diễn ra mạnh mẽ tại đây và quân Pháp bình định được vùng đất này là nhờ có sự giúp đỡ của lãnh binh Tấn.
Lãnh binh Tấn (2) mời Morice tới chơi tại tư dinh của ông ta. Theo như miêu tả của ông ta, trong nhà của lãnh binh có rất nhiều đồ quý bằng gỗ mun hoặc gỗ đỏ nhạt được chạm khắc và khảm trai rất tinh xảo, các bộ sưu tập sinh vật, đặc biệt là bướm, chim và những con vật rất kỳ dị. Ngoài những đồ vật giá trị khác như cơi trầu, cán quạt, bàn ghế, tủ, tẩu thuốc..., ông ta còn có thú sưu tầm nhiều vũ khí của người Âu. Trong các món ăn, Morice bị hấp dẫn bởi món nộm làm từ hoa cau mà ông chưa từng được thưởng thức trước đó.
Cách nhà của lãnh binh Tấn chừng vài trăm mét, ở bên kia con kênh là chùa Gò Công nổi tiếng, với nhiều tác phẩm mang màu sắc tôn giáo, đặc biệt là các bức vẽ. Bên ngoài được trang trí bằng hình chim muông, loài vật và hoa lá, bên trong tái hiện những trận đánh và cảnh sinh hoạt đời thường. Giống như nhiều ngôi chùa ở Nam Kỳ, nơi đây có rất nhiều dơi sinh sống, phân dơi vương vãi khắp nơi.
Xứ hồ tiêu Hà Tiên
Khi ghe khách đi vào Kênh Vĩnh Tế, Morice không khỏi thán phục trước khả năng cũng như sức mạnh của con người nơi đây: chỉ với bàn tay lao động đã tạo nên một con kênh rộng đến như thế. Vừa cập đảo, vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây khiến ông ta choáng ngợp: một Hà Tiên nửa nhô lên trên hồ, nửa vươn ra biển, phía tây là những ngọn đồi xanh mướt, hồ nước chảy ra vịnh Xiêm La (vịnh Thái Lan ngày nay), được điểm xuyết ở mạn đông là đồng bằng với khối đá vôi Thạch Động chơ vơ mọc lên ở giữa[3].
Hạt tham biện Hà Tiên được xây dựng trên ngọn đồi nhân tạo cao chừng 20m, trông ra hồ và vùng đồng bằng ở phía đông. Sau khi tách đảo Phú Quốc, Hà Tiên trở thành một trong những hạt tham biện nhỏ nhất của Nam Kỳ, chỉ quản lý hơn 13 làng với gần 5.000 dân. Cư dân chủ yếu làm nông, đánh bắt cá và trồng trọt. Canh tác ở đây chủ yếu là trồng hồ tiêu, các vườn hồ tiêu chiếm khoảng 50 héc-ta và là nguồn tài nguyên chính của đảo. Trên nền đất cao, những gốc tiêu được trồng thành hàng song song và sau 5 năm mới có thể thu hoạch. Tuy nhiên, hồ tiêu là loại cây không đòi hỏi quá nhiều sự chăm sóc. Ngoài ra, dân trên đảo còn trồng ngô làm lương thực.
Nét đặc trưng của Hà Tiên - vốn được gọi là Venise chính là con phố dài gần như thẳng tắp, với những ngôi nhà dựng trên bùn lầy của con lạch nối hồ với biển. Để đi lại thuận tiện, người ta đã cho lập một con đê dài chừng 200m từ các ván gỗ, dẫn đến những túp lều biệt lập.
Lúc thủy triều xuống, dưới ánh nắng mặt trời chói chang, mùi bùn bốc lên khá khó chịu nhưng người dân trên đảo dường như đã quá quen với điều kiện tự nhiên nơi đây. Khi thủy triều lên, nước chạm đến sàn nhà, ngư dân dễ dàng hạ ghe thuyền và chỉ sau một giờ quăng lưới, họ có thể bắt được thực phẩm đủ ăn cho cả ngày: nào là những con cua càng to, thân béo, tôm hùm, nhím biển, ngao sò các loại, đôi khi có cả tôm bọ ngựa và rất nhiều sam[4].
Morice đến Hà Tiên vào đúng dịp Tết nên được tận hưởng không khí này kéo dài ít nhất 7 ngày, riêng các hộ giàu còn có thể tổ chức lâu hơn. Trước mỗi ngôi nhà, trên chiếc bàn phủ chiếu, người ta bày đồ cúng là các món ăn và đồ uống: rượu gạo đựng trong bình sứ màu xanh nhạt, trà, cơi trầu với đầy đủ thành phần, cá, miến mì các loại, ngan quay, thịt lợn, gạo, chuối và cam được trang trí đan xen với những bông hoa. Khi hai ngọn nến được thắp lên, gia chủ thành kính mời vong hồn gia tiên về hưởng lễ do con cháu chuẩn bị. Một ban thờ khác bày biện các đồ cúng tinh tế hơn, thường gồm một bó hoa màu tím nhạt và vàng. Nhà giàu thường trồng cây cau trước ban thờ này, còn nhà nghèo thường trồng cây tre to, trên cùng treo chiếc lồng mây chia thành 5 phần[5]. Bàn thờ Phật đặt ở góc nhà được trang hoàng đặc biệt, những câu đối vàng, đỏ, tím viết bằng chữ Hán được dán trên cánh cửa để xua đuổi tà ma trong năm mới.
Già trẻ gái trai xúng xính trong những trang phục đẹp nhất: áo cánh lấp lánh, quần xanh, đỏ, vàng, tím, xanh lá cây và thường hai ống quần là hai màu khác nhau, đặc biệt phổ biến ở trẻ em. Trang phục ngày Tết của người giàu khác với trang phục ngày thường ở chất liệu lụa, các hào mục khoác thêm áo dài bằng ren đen ra ngoài áo lụa, phụ nữ dùng lược đồi mồi để giữ nếp tóc.
Rất nhiều trò chơi ngày Tết diễn ra trong tiếng trống rộn ràng, tiếng đàn Tam và tiếng pháo: nào là phóng lao làm từ gỗ mun qua một vòng tròn từ khoảng cách 6-8m - đòi hỏi rất nhiều sự khéo léo; trò chơi đánh đu được dựng ở khu vực trống rộng lớn, hay đá cầu. Người dân trên đảo tích tiền trong nhiều tháng chỉ để tiêu trong những ngày Tết như mua vé xem diễn trò: một gánh tuồng đến đảo trình diễn với những cảnh khiến Morice vô cùng thích thú.
Dẫn đến khối đá vôi Thạch Động là con đường dài khoảng 12km xuyên qua cánh đồng muối. Trên đường, Morice bắt gặp vài con sóc đỏ và một con rắn sọc dưa hay còn gọi là rắn hổ ngựa[6], dài chừng 2m màu vàng nhạt với nửa phần thân có hai sọc đen. Ngoài ra, ông ta còn thấy loại cá đầu khá to, dùng đuôi, vây để di chuyển lên các viên đá hoặc trên rễ của những cây to mọc ven ao, khi bơi, đầu chúng ngoi lên khỏi mặt nước giống như động vật có vú thực thụ[7]. Dưới chân Thạch Động có vài cây xoài, một ngôi chùa nhỏ đào sâu trong núi[8], khi bước vào mới cảm nhận được thời hoàng kim của nó dưới thời Mạc Cửu, thạch nhũ rủ xuống từ trần ở vài nơi và khi dùng sỏi gõ nhẹ vào phát ra âm thanh giống như tiếng cồng chiêng vọng lại.
Thạch Động tựa như hai khối núi khổng lồ áp vào nhau, đỉnh của khối này nghiêng về khối kia tạo một khoảng trống phía dưới chân. Sâu trong chùa là vài hốc khá sâu, với kích thước đủ để một người đàn ông đi qua. Sang tới phía bên kia của Thạch Động, Morice nhận thấy xa xa phía chân trời là dãy núi Voi sừng sững giữa đồng bằng rộng lớn, với một phần là ao hồ, ở phía đông nhô lên một ngọn đồi với những tàn tích còn lại của một đồn lũy, ở phía tây là vịnh Xiêm La. Xuống dưới đến đồng bằng, ông ta bắt gặp cảnh người Cao Miên và người bản xứ đang xếp các khối đá lấy từ đỉnh Thạch Động cho vào lò vôi.
Các trò giải trí khá hiếm ở Hà Tiên, phổ biến là trò chọi cá, người chơi sử dụng cá tia-tia[9] (còn người Cao Miên gọi là Trei-Kram-tioul) dài chừng 5cm và bắt lên từ cái ao gần một trong những ngôi chùa đẹp nhất trong vùng. Morice cũng ghé thăm dinh thự giờ chỉ còn là phế tích của dòng họ Mạc Cửu, không xa hải đồn là bao. Một căn phòng rộng, bên trong là những ngôi mộ hay công trình tưởng niệm và cao nhất là lăng mộ của Mạc Cửu - người có công khai phá Hà Tiên. Do được xây dựng từ vật liệu giả đá hoa cộng thêm sự khắc nghiệt của nắng mưa, công trình xuống cấp nghiêm trọng.
Ngày 20/6/1873, khi dừng chân ngủ trưa tại hải đồn, Morice vô tình khám phá hệ động vật nơi đây khi các công nhân sửa chữa tìm thấy một con rắn đang cuộn tròn bên cạnh ổ trứng. Ông ta đã đuổi được rắn mẹ đi và mang ổ trứng về nơi tạm nghỉ, gần một tuần sau, khi các quả trứng nở ra, bầy rắn con di chuyển và ông ta phát hiện đó chính là loài rắn hổ mang có tên khoa học là cobra capelle.
Trong thời gian khá ngắn, Morice tò mò khám phá bửu ngọc giữa vịnh Xiêm La: đảo Phú Quốc. Hệ động vật ở đây khá phong phú: trong rừng có khoảng 3.000 con trâu hoang dã, lợn rừng và hươu nai, những con chim hồng hoàng to sống thành từng đôi làm tổ trên những cây đại thụ, rồi các loại khỉ, trăn, kỳ đà, kỳ tôm[10] trườn vào sâu trong rừng. Rất nhiều hồ trùng[11] dệt nên từ những chấm nhỏ di chuyển trên những con đường cát trắng, bọ cát đinh lấp lánh dưới ánh mặt trời tựa như những vụn vàng bóng. Chừng 2.000 cư dân trên đảo sống bằng nghề đánh cá.
Những miêu tả của Morice đã tạo nên bức tranh chấm phá về một Nam Kỳ những năm 1870, mang đến góc nhìn khái quát về đời sống vật chất, tinh thần cũng như cảnh sắc thiên nhiên của xứ này vào cuối thế kỷ 19.
[1]. Các minh họa đều thuộc bài viết đăng trên tạp chí Vòng quanh thế giới số ra quý II/1875 như đã dẫn ở Kỳ I.
[2] . Theo Lục Tỉnh Tân Văn số 611 ra ngày 30/3/1911, năm 24 tuổi Huỳnh Công Tấn (1837-1874) làm đội trưởng đội Ma tà cầm binh đàn áp quân của thủ lĩnh khởi nghĩa Trương Công Định. Do có công trong đàn áp các nghĩa quân chống Pháp, Huỳnh Công Tấn được Pháp cử làm quản cơ và đã ra lệnh truy lùng tiêu diệt Trương Công Định. Các cuộc đàn áp phong trào khởi nghĩa ở Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 của Huỳnh Công Tấn được quân Pháp ghi nhận phong cho chức Chánh lãnh binh và tặng Ngũ đẳng bửu tinh.
[3]. Tên tiếng Pháp là Bonnet-à-Poil.
[4]. Tên tiếng Pháp là "limule des Moluques".
[5]. Theo miêu tả có thể đây là cây nêu.
[6] . Tên khoa học là Compsosoma radiatum.
[7] . Loài cá được Morice nhắc đến là cá thòi lòi (cá leo cây/cá lác ngoách), thở bằng da và miệng, vây ngực khỏe giúp chúng di chuyển, leo trèo linh hoạt, thường sống ở vùng bùn đất ngập mặn.
[8] . Nay là chùa Tiên Sơn.
[9] . Cá lia thia hay cá thia thia, cá xiêm và Morice đã miêu tả khá chi tiết về cách chơi trò này.
[10] . Morice ghi là physignatus mentager.
[11] Còn gọi là sâu bọ cánh cứng.
Nguồn : Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia